Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành cổ Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành cổ Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Công viên Thống Nhất, Hà Nội



Công viên Thống Nhất được xây dựng để làm nơi giải trí cho đồng bào thủ đô.Nằm tại 354 Lê Duẩn, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Công viên nằm giữa bốn phố Trần Nhân Tông, Lê Duẩn, Đại Cồ Việt và Nguyễn Đình Chiểu có diện tích trên 50 hecta.

Nơi đây xưa kia vốn là vùng đầm hồ và bãi rác của ba làng Vân Hồ, Thể Giao và Thiền Quang, phía Đông là đất các làng cổ Vân Hồ, Thể Giao và Thiền Quang. Phía Bắc là làng Thiền Quang, Pháp Hoa, Quang Hoa, Liên Thủy. Phía Tây là làng Liên Thủy, Kim Liên (hồ Bảy Mẫu là của làng Kim Liên). Phía Nam là làng Phúc Lâm Tiểu và Vân Hồ.


Ngày 30/5/1961, công viên chính thức khánh thành và mang tên Công viên Thống Nhất với niềm hy vọng sớm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 30/4/1975, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 110 ngày sinh của Lê Nin, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân thế giới, Công viên Thống Nhất được đổi tên thành Công viên Lê Nin (ngày 19/4/1980). Đến tháng 5/2003, Công viên Chi Lăng nơi có tượng Lê Nin đổi thành Công viên Lê Nin. Vào tháng 10/2003, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội quyết định chuyển lại tên công viên Thống Nhất như ban đầu.

Công viên có hai cửa lớn mở ra phố Trần Nhân Tông và đường Lê Duẩn. Công viên Thống Nhất có nhiều bồn hoa bốn mùa khoe sắc, có những hàng thuỳ liễu mượt mà, những cây thông suốt năm xanh thắm và nhiều loài cây ăn trái. 


Đây là điểm vui chơi giải trí của người dân thủ đô. Đối với thiếu nhi, công viên có một khu giải trí riêng với đu quay chạy điện, máy bay trên khung sắt và nhà gương biến dạng hấp dẫn. Với thanh niên thì ở khắp lối dọc, đường ngang có những dãy ghế đá nép mình bên vòm hoa, tiện cho việc chuyện trò, tâm sự. Hồ Bảy Mẫu nằm trong công viên hữu tình, nên thơ cho nam thanh nữ tú thoả sức bơi thuyền ngược xuôi trên hồ. Trong công viên còn có cả khu trồng phong lan với hàng trăm chủng loại lan và nhiều loại cây nào là cây cảnh, cây thế... cùng những bể lớn, bể nhỏ với nhiều loại cá đẹp, lạ mắt. Công viên còn có khu đảo Hoà Bình nằm giữa hồ, là nơi yên tĩnh, thích hợp cho các cụ già đến trò chuyện, thư giãn.





Từ khóa tìm kiếm trên google:
  • Công viên Thống Nhất
  • Du lịch Hà Nội
  • Công viên Thống Nhất Hà Nội
  • Du lịch miền Bắc

Đền Ngọc Sơn, Hà Nội




Trên đất kinh kỳ Thǎng Long - Đông Đô - Hà Nội, nghìn nǎm vǎn hiến thì sự dung hợp về tôn giáo được thể hiện khá rõ nét tại đền Ngọc Sơn. Cùng với Hồ Gươm và Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn đã tạo nên một quần thể hoàn chỉnh, đẹp đẽ. Quần thể này đã trở thành một trong những biểu tượng đặc trưng nhất cho Hà Nội ngày nay.

 
Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ , vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên là Ngọc Tượng, đến thời Trần đổi thành Ngọc Sơn. Truyền thuyết kể rằng, ở gò trong hồ đá, có các tiên nữ thường về đây múa hát. Thời vua Lê, Chúa Trịnh xây cung Khánh Thụy ở Ngọc Sơn làm nơi vui chơi. Cuối thời Lê, xây chùa Ngọc Sơn thờ Phật. Đến thời Nguyễn, chuyển thành đền thờ Văn Xương - Đế Quân, rồi lại phối thờ Lã Động Tân, Quan Đế (tức Quan Vân Trường), phật A Di Đà và đặc biệt là tướng quân Trần Hưng Đạo. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt.


Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu bổ lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá chung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.
Trên núi Độc Tôn cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học. Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút.


Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành.
Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên.

Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút. Phía nam có đình Trấn Ba (đình chắn sóng - ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ.

Đền Ngọc Sơn là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên. Đền và hồ đã trở thành những chứng tích gợi lại những hoài niệm về lịch sử dân tộc, thức tỉnh niềm tự hào chính đáng, lòng yêu nước, cũng như tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn của dân tộc



Từ khóa tìm kiếm trên google:
  • Đền Ngọc Sơn
  • Đền Ngọc Sơn Hà Nội
  • Du Lịch Hà Nội
  • Thăm quan cụ Rùa
  • Cụ Rùa đền Ngọc Sơn


Đền Quán Thánh, Hà Nội



Nằm ở phường Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội, Đền Quán Thánh được tương truyền đền có từ thời Lý Thái Tổ, thờ thánh Trấn Vũ - vị thần trấn giữ phương Bắc và là một trong Thăng Long tứ trấn và Thăng Long tứ quán xưa.


Ngôi đền hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần. Năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị II (1677), đời Lê Hy Tông, chúa Trịnh Tạc sai đình thần là Nguyễn Đình Luân trùng tu. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được triều đình cho đúc lại bằng đồng đen (hun). Tợng cao 3,07m, chu vi 8m. Tượng mặt vuông, mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của dân ta cách đây 3 thế kỷ. Tại nhà bái đường còn một pho tượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng đồng đen, nhiều người cho rằng đây là tượng ông Trùm Trọng, người thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tượng Trấn Vũ. Tượng này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ công ơn của thầy. Cùng đúc với tượng là quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam quan.



Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ Dương soạn. Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (chiều 1,10 x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai. Đến đời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa.

Các bộ phận kiến trúc hiện thấy, là kết quả của lần trùng tu lớn, hồi thế kỷ 19, bao gồm: tam quan, sân, ba lớp nhà tiền đế, trung đế, hậu cung. Ở đây có pho tượng bằng đồng đen, cao gần 4m, nặng gần 4 tấn, đúc năm 1677 để thể hiện lòng ngưỡng mộ của nhân dân với thánh Trấn Vũ

Trong đền có bức tượng Trấn Vũ đúc bằng đồng đen năm 1667, cao 3,69 m, nặng khoảng 4 tấn. Tượng có hình dáng một Đạo sĩ ngồi, y phục gọn gàng nhưng tóc lại bỏ xõa, chân không mang giày, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm thần có rắn quấn quanh và chống lên lưng rùa. Tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại ViệtNam, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây ba thế kỷ.


Ngoài nghệ thuật đúc đồng, đền Quán Thánh còn nổi tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ của ngôi đền các đề tài như tứ linh, dơi, cá, tùng, trúc, cúc, mai, lẵng hoa, bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian và thượng giới... được chạm khắc một cách tinh xảo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê.

Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần một thiên niên kỷ nhưng ngôi đền vẫn còn nguyên vẹn,.



Từ khóa tìm kiếm trên google:
  • Đền Quán Thánh
  • Đền Quán Thánh Hà Nội
  • Du lịch Hà Nội
  • Du lịch miền Bắc
  • Thăng Long tứ quán
  • Thăng Long tứ trấn

Chùa Một Cột, Hà Nội



Chùa Một Cột với kiến trúc độc đáo mang lại vẻ riêng biệt làm thu hút rất nhiều khách du lịch tới tham quan, chiêm ngưỡng ngôi chùa được dựng lên chỉ bằng một chiếc cột nhưng vẫn vững trãi, không có gì đánh đổ được qua thời gian. Chùa Một Cột còn là một nét đẹp văn hóa của Thủ đô Hà Nội,  chùa xứng đáng được Tổ chức Kỷ lục châu Á đã xác lập kỷ lục châu Á: “Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất” cho chùa Một Cột ngày 10-10-2012 vừa, một điểm đáng mừng và là niềm tự hào của người dân Việt Nam.


Chùa Một Cột không giống với bất cứ một tháp phật nào, chùa tuy không lớn nhưng lại mang đậm tính triết lí nhân văn ở trong: vòng ngoài hình vuông tượng trưng cho âm, và cột hình tròn tượng trưng cho dương, trong âm có dương, trong dương có âm. Đây là quy luật tuần hoàn tương sinh, tương khắc của vũ trụ. Vẻ đẹp của nó vừa có vẻ uy nghi cổ kính, lại vừa mang phong thái nhẹ nhàng thanh thoát của cõi phật.

Chùa Một Cột còn gọi là Tòa đài sen, hình dáng như một bông sen nhô lên trên mặt nước. Chùa hình vuông làm bằng gỗ, lợp ngói ta, mỗi cạnh 3m, trên một trụ đá có đường kính 1,2m, đó là nét độc đáo của ngôi chùa. Trụ đá gồm hai khối gắn liền với nhau, tưởng như chỉ là một khối. Trụ đá cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất). Phần trên thân trụ mang tám cánh gỗ, trông tựa bông sen nở, lại ăn liền với mộng tám cột lớn và cột phụ đỡ các đòn ngang của mái. Nóc chùa có mặt nguyệt bốc lửa, đầu rồng chầu mặt nguyệt. Trong chùa, tượng đức Phật Quan Âm tọa lạc. Phía trên tượng Phật là hoành phi "Liên hoa đài". Tượng Phật Quan Âm cũng ngồi trên một bông sen bằng gỗ sơn son thiếp vàng, ở vị trí cao nhất. Chùa có bốn mái, bốn đầu đao cong được đắp hình đầu rồng. Chùa Một Cột có ý nghĩa văn hóa tôn giáo to lớn nhưng quy mô lại thu nhỏ để bảo đảm kiến trúc có hình tượng bông sen. Từ sân lên sàn chùa để tụng kinh lễ bái, bước qua 13 bậc rộng 1,4m, hai bên tường gạch, gắn bia đá giới thiệu lịch sử ngôi chùa.

Chùa Một Cột xây ở giữa hồ nước thả sen, mỗi cạnh hồ 20m, có tường thấp bao xung quanh. Khách trong và ngoài nước tới vãn cảnh, ngắm sen nở trong hồ toát lên sự cao quý của Đức Phật Quan Âm, tài nghệ của các nghệ nhân kiến trúc giàu trí tưởng tượng đã vượt qua tất cả các kiến trúc đương thời.



Kiến trúc chùa mang hình tượng đóa sen nở



Cổng chùa Diên Hựu được xây dựng vào năm 1049 đời vua Lý Thái Tông


Hình Lưỡng long triều nguyệt (Hai rồng chầu mặt trăng) trang trí nóc mái



Hình cá chép hóa rồng trang trí mái đầu đao



Mô hình chùa Một Cột biểu tượng của Việt Nam trong công viên ở Thâm Quyến, Trung Quốc

Chúc du khách tham quan vui vẻ!



Từ khóa tìm kiếm trên google:

  •  Chùa Một Cột
  • Chùa Một Cột Hà Nội
  • Du lịch Hà Nội
  • Lịch sử Chùa Một Cột
  • Chùa Một Cột cổ xưa

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội







Theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định: "Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng mộ của Người".

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất, Anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, Danh nhân văn hoá của nhân loại đã đi vào cõi vĩnh hằng, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.



Giới thiệu về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973. Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: "Chủ tịch Hồ Chí Minh" bằng đá hồng màu mận chín. 

Trên đỉnh lăng là hàng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" ghép bằng đá ngọc màu đỏ thẫm của Cao Bằng. Cửa lăng làm từ các cây gỗ quý từ Tây Nguyên. Tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng, làm nền cho dòng chữ "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" và chữ ký của Hồ Chí Minh được dát bằng vàng. 200 bộ cửa trong Lăng được làm từ các loại gỗ quí do nhân dân Nam Bộ, Tây Nguyên, Quảng Nam - Đà Nẵng, và bộ đội Trường Sơn gửi ra, và do các nghệ nhân nghề mộc của Nam Hà, Hà Bắc, và Nghệ An thực hiện. Cánh cửa vào phòng đặt thi hài do hai cha con nghệ nhân ở làng Gia Hòa đóng. Hai bên cửa chính là hai cây hoa đại. Phía trước và phía sau lăng trồng 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 năm trong cuộc đời của Hồ Chủ tịch. Hai bên phía nam và bắc của lăng là hai rặng tre, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam. Trước cửa lăng luôn có hai người lính đứng gác, 1 giờ đổi gác một lần.

Giờ mở cửa Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mở cửa 5 ngày một tuần, vào các buổi sáng thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, thứ Bảy và Chủ nhật. Mùa nóng (từ 1-4 đến 31-10): Từ 7h30 đến 10h30; mùa lạnh (từ 1-11 đến 31-3 năm sau): Từ 8h00 đến 11h00; ngày lễ, thứ Bảy, Chủ nhật mở cửa thêm 30 phút. Hàng năm Lăng đóng cửa để làm nhiệm vụ tu bổ định kỳ vào 2 tháng: tháng 10 và tháng 11. Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hiện nay phí vào cửa là miễn phí và khách viếng thăm phải tuân theo những yêu cầu như ăn mặc chỉnh tề, không đem máy ảnh và giữ trật tự trong lăng.



Từ khóa tìm kiếm trên google:

  • Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Hồ Chí Minh
  • Lăng Chủ tịch
  • Viếng Lăng Chủ tịch 
  • Viếng Lăng Bác



Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội





Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm tại đường Quốc Tử Giám, Quận Đống Đa, Hà Nội. Nơi đây là trường đại học đầu tiên của nước ta, được xây dựng vào tháng 10 năm 1070. Văn Miếu Quốc Tử Giám thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.




Toàn bộ khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: Văn hồ, vườn Giám và khu nội tự. Phía Nam, trước mặt Văn Miếu là hồ Minh Đường hay Văn hồ, dân gian thường gọi là hồ Giám. Giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa). Văn Miếu có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên với các kiến trúc chủ thể là: cổng Văn Miếu, cổng Đại Trung, Khuê Văn các, cổng Đại Thành, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học.

Khu thứ nhất: Bắt đầu với cổng chính đến cổng Đại Trung. Trên cổng chính có chữ Văn Miếu Môn. Đây là một kiến trúc cổng tam quan hai tầng, phía ngoài cổng có đôi rồng đá cách điệu thời Lê sơ (thế kỷ 15), bên trong có đôi rồng đá thời Nguyễn. Kiểu dáng kiến trúc Văn Miếu môn nhiều nét độc đáo rất đáng lưu ý trong khi nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam. Nhìn bên ngoài tam quan là 3 kiến trúc riêng biệt. Mặt bằng hình vuông. Tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới. Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Ðại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai., hai bên là hai cổng nhỏ Thành Đức và Đạt Tài. Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn.



Khu thứ hai: Nổi bật với Khuê Văn Các - một công trình kiến trúc độc đáo được xây dựng năm 1805 (triều Nguyễn), gồm 2 tầng, 8 mái bao gồm 4 mái thượng và 4 mái hạ. Tầng dưới là 4 trụ gạch vuông, mỗi cạnh của trụ có chiều dài 1m và trên các mặt trụ đều có chạm trổ các hoa văn rất tinh vi và sắc sảo. Tầng trên là kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát có độ bền cao, bốn mặt đều có cửa sổ tròn với những con tiện tỏa ra bốn phía tượng trưng cho hình ảnh sao Khuê tỏa sáng. Gác dựng trên một nền vuông cao cân xứng có lát gạch Bát Tràng mỗi bề có chiều dài là 6,8m. Hai bên (phải và trái) Khuê Văn là hai cổng Bí Văn và Súc Văn. Khuê Văn Các thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ hay của các sĩ tử. Ngày nay, Khuê Văn Các còn được lấy làm biểu tượng của thủ đô Hà Nội.


Khu thứ ba: Từ gác Khuê Văn tới Ðại Thành Môn, ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng) có tường bao quanh. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa còn có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời cả đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế đô này. Hai bên hồ là hai khu vườn bia, tức nơi lưu giữ 82 bia tiến sĩ dựng từ năm 1484 - 1780, ghi tên, quê quán của các vị tiến sĩ của 82 khoa thi. Ðây chính là những di vật quý nhất của khu di tích. Vào ngày 9/3/2010, UNESCO đã chính thức công nhận 82 tấm bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, là Di sản tư liệu thế giới.


Khu thứ tư: Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mang lát gạch Bát Tràng. Hai bên phải trái của sân là 2 dãy Hữu Vu và Tả Vu vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu hai bên, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và thuyền thống. Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái treo "Bích Ung đại chuông" (chuông lớn của nhà Giám), bên phải có một chiếc khánh đá. Chuông Bích Ung do Nguyễn Nghiễm đứng ra đúc nǎm 1768. Tấm khánh mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ nói về công dụng loại nhạc khí này.


Khu thứ năm: Sau khu Ðại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám đời Lê (nay là khu Thái Học), một loại trường đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn dời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đền Khải Thánh thờ cha và mẹ Khổng Tử. Toàn bộ mái đều được lợp hai lớp ngói lót, trên là một lớp chì dày 1,5mm rồi đến một lớp ngói lót nữa, và trên cùng là ngói mũi hài. Phần giữa các cột nhà với chân đá tảng cũng đặt một tấm chì dày 1,5mm để chống ẩm từ dưới lên. Nền sân đều được lát gạch Bát Tràng kích thước 30cm x 30cm x 4cm. Xung quanh nhà đều được bó vỉa bằng đá xanh.


 Văn Miếu là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội.




Từ khóa tìm kiếm trên google:
  • Văn Miếu Quốc Tử Giám
  • Cổng Đại Trung Văn Miếu
  • Khuê Văn Các Văn Miếu
  • Khu Thái Học Văn Miếu
  • Cửa Đại Thành Văn Miếu
  • Du lịch Hà Nội
  • Văn Miếu
  • Văn Miếu Hà Nội
  • Bia Văn Miếu
  • Văn Miếu Môn

Thành cổ Hà Nội


 



Hoàng Thành Thăng Long là Thành cổ xưa được nằm trong mt khuôn viên khá rộng, phía tây giáp phường Hoàng Diệu, phía đông giáp đường Nguyễn Tri Phương, phía nam giáp đường Trần Phú, phía bắc giới hạn bởi phố Phan Đình Phùng, thuộc quận Ba Đình. Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là di tích lịch sử và kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia. Di tích gắn với lịch sử của quốc đô Thăng Long và tổng hanh dinh quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.


Đoan Môn là cổng chính phía Nam để vào bên trong Cấm thành. Đoan Môn có niên đại thời Lê (thế kỷ 15), được xây bằng đá và gạch vồ, có chiều cao là 6m. Cổng có 5 cửa vòm, cửa chính giữa có gắn một phiến đá khắc chữ Đoan Môn. Dưới lòng đất Đoan Môn, cuộc khai quật khảo cổ học năm 1999 đã tìm thấy dấu tích đường viền đá lát chân tường và sân gạch từ thời Lê, dấu tích con đường lát gạch hình hoa chanh thời Trần và nền gạch thời Lý ở lớp dưới cùng.



Cửa Đoan Môn là toà duy nhất còn được giữ lại trong tổng thể, bao gồm một vọng lầu có hai tầng, lầu trên tám mái, dưới gồm một lối vào mở năm cửa lớn. Phía trên cổng chính, mặt nam còn hàng chữ "Đoan Môn". Hiện nay Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn.

Thềm Điện Kính Thiên
Điện Kính Thiên được xây dựng năm 1428 trên vị trí của điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý - Trần (thế kỷ 11-14). Hiện nay chỉ còn nền cũ và hai thềm rồng đá.
Thềm rồng phía trước điện được xây năm 1467, có 9 bậc bằng đá. Thềm chia thành 3 lối lên xuống đều nhau bằng đôi lan can đá chạm rồng. Lối chính giữa dành cho vua đi, hai bên dành cho quần thần.
Thềm rồng phía sau nền điện được tạo tác khoảng cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 với quy mô nhỏ hơn so với thềm rồng phía trước, chỉ có một lối lên xuống với 7 bậc.



Nhà và hầm D67 ở phía Bắc của nền điện Kính Thiên, là trung tâm Sở chỉ huy của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh 1954-1975, trong đó có phòng làm việc và phòng nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng nổi tiếng nhất trong hàng ngũ tướng lĩnh của Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra một số cuộc họp của lãnh đạo quân sự cao nhất đưa ra các quyết sách về chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Hậu Lâu - Lầu Công chúa



Hậu Lâu còn gọi là Tĩnh Bắc Lâu, Lầu Công chúa hay Pagode des Dames (Chùa Các bà), là công trình được xây dựng muộn hơn (1821) so với các di tích nằm trên trục trung tâm của Thành Hà Nội. Ban đầu được sử dụng vào mục đích tôn giáo (thờ Phật). Cuối thế kỷ 19 Hậu Lâu bị hư hỏng nặng, người Pháp đã cải tạo xây dựng lại như hiện nay.
Tại đây, năm 1998, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các hiện vật có niên đại từ thế kỷ 9 đến đầu thế kỷ 20. Tại độ sâu 3,2m đã tìm thấy dấu tích bến nước thời Lê sơ được xây dựng bằng gạch và đá chân tảng hoa sen từng được dùng để đỡ các cột gỗ thời Lý, Trần và rất nhiều đồ gốm sứ trắng mỏng - đồ ngự dụng - thời Lê sơ.

Bắc Môn



Bắc Môn là cổng thành phía Bắc, một trong 5 cổng thành duy nhất còn lại của thành Hà Nội thời Nguyễn, xây dựng năm 1805.
Cổng thành được xây bằng gạch với vòm bằng đá, giữa cửa có tấm biển đá ghi 3 chữ Hán “Chính Bắc Môn”, diềm biển trang trí hoa dây. Trên cổng thành hiện nay thờ hai vị Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu đã tuẫn tiết theo thành Hà Nội.



Từ khóa tìm kiếm trên google:

  • Thành cổ Hà Nội
  • Hoàng Thành Thăng Long
  • Đoan Môn
  • Bắc Môn
  • Thềm điện Kính Thiên
  • Du lịch Hà Nội
  • Hà Nội
  • Hậu Lâu
  • Lầu Công Chúa